This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Sách linh Khu - Y học cổ truyền việc Nam

Sách linh Khu - Y học cổ truyền việc Nam

Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người


Bài sưu tầm do Thầy Trần Trọng Toàn (Vi Sinh) sưu tầm. Gởi đến các bạn.


Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người.
Irene Liu
(Lang Vườn trích dịch)




Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-Tế săn sóc.


Chỉ cần một ống tim thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke).  Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng và hữu hiêu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.




Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.


Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì Ông là bệnh nhân của bệnh tai biếng mạch máu não.  Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước.  Khi tai biếng mạch máu não xảy ra,
tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”


Khi có bệnh nhân bị tai biếng mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuốn quít.  Ðiều quan trọng nhất là ÐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đậu

Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ
vỡ rạ.  Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt
đầu công việc “rút máu.”


Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.


1- Trước hết chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa(bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly(milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ rạ
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ)
tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu
đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi môi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai.  Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn
hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới
mang bệnh nhân đến bệnh viện.


Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn.  Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bi vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.


Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Ðông Y tên Hà Bảo Ðịnh (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa.  Vì

thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%.  Năm
1979, tôi đang dạy tại Ðại Học Fung-Gaap tại Ðài Trung.  Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một Giáo Sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám Sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’


Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám Sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, Ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não.  Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Ðại Học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng
kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu.  Sau vài phút,
mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông
cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên
dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.


Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra.  Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường.  Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy
Hoa gần đó.  Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.  Sau đó mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó.  Trái lại các nạn
nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình
thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện.  Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”


Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì.  Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt

đời.  Ðó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân.  Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đở những nạn nhân của căn bệnh quái
ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.


Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.


NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN TBMMN


1- Nguyên nhân:
- Những người bị cao huyết áp.
- Xơ vữa động mạch: Thường ở những người béo mập, những người nghiện bia, rượu, hút thuốc lá...
- Những người bị các bệnh về tim, mạch (hẹp, hở van tim, van
động mạch chủ, động mạch phổi...)
2- Điều kiện (còn gọi là nguyên nhân tức thời để TBMMN dễ xảy ra)
- Tình trạng thần kinh căng thẳng (tức giận, lo âu, buồn vui quá
độ...)
- Say bia, say rượu, say thuốc lá.
- Nhiễm lạnh đột ngột (khi tắm, bị gió lùa).


NHỮNG DẦU HIỆU BÁO TRƯỚC KHI BỊ  TBMMN


- Nhức đầu: Đây là dấu hiệu thường có nhất, hay xuất hiện về đêm, nhức nửa đầu (thường ở bên sẽ bị tổn thương). Cơn nhức đầu có
thể thoáng qua hoặc kéo dài.
- Chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nhiều khi bị xung huyết ở vùng mặt
(bầm tím).
- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó, nói ngọng, không hiểu lời.
- Tê bì hoặc dị cảm nửa người (bên sẽ bị liệt).

- Thoáng mất ý thức, thoáng quên, thoáng điếc, thoáng ngất.
Tất cả những dấu hiệu trên có thể chỉ thoáng qua rồi mất cho nên người bệnh không lưu ý. Nhưng có khi ngay sau đó người bệnh rơi vào tình trạng TBMMN (hôn  mê).
 
 
NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TBMMN
 
 
1- Nếu nặng:
Tự nhiên bệnh nhân bị sây sẩm mặt mày rồi ngã vật ra, mê man
bất tỉnh, thở khò khè. Liệt nửa người, ỉa đái dầm dề. Những trường hợp này rất nặng, dễ dẫn đến tử vong sau ít giờ.
 
 
2- Nếu nhẹ:
Bệnh nhân cảm thấy nói khó, tê bì nửa người, tay chân khó vận động và dần dần không thể chủ động được nữa, tình trạng tinh thần vẫn còn tỉnh táo. Bệnh có thể dừng ở đây rồi phục hồi dần dần.
Song nhiều khi trở thành nặng như trên.

Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người


Bài sưu tầm do Thầy Trần Trọng Toàn (Vi Sinh) sưu tầm. Gởi đến các bạn.


Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người.
Irene Liu
(Lang Vườn trích dịch)




Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-Tế săn sóc.


Chỉ cần một ống tim thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke).  Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng và hữu hiêu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.




Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.


Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì Ông là bệnh nhân của bệnh tai biếng mạch máu não.  Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước.  Khi tai biếng mạch máu não xảy ra,
tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”


Khi có bệnh nhân bị tai biếng mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuốn quít.  Ðiều quan trọng nhất là ÐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đậu

Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ
vỡ rạ.  Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt
đầu công việc “rút máu.”


Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.


1- Trước hết chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa(bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly(milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ rạ
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ)
tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu
đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi môi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai.  Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn
hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới
mang bệnh nhân đến bệnh viện.


Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn.  Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bi vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.


Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Ðông Y tên Hà Bảo Ðịnh (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa.  Vì

thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%.  Năm
1979, tôi đang dạy tại Ðại Học Fung-Gaap tại Ðài Trung.  Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một Giáo Sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám Sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’


Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám Sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, Ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não.  Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Ðại Học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng
kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu.  Sau vài phút,
mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông
cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên
dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.


Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra.  Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường.  Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy
Hoa gần đó.  Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.  Sau đó mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó.  Trái lại các nạn
nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình
thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện.  Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”


Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì.  Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt

đời.  Ðó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân.  Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đở những nạn nhân của căn bệnh quái
ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.


Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.


NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN TBMMN


1- Nguyên nhân:
- Những người bị cao huyết áp.
- Xơ vữa động mạch: Thường ở những người béo mập, những người nghiện bia, rượu, hút thuốc lá...
- Những người bị các bệnh về tim, mạch (hẹp, hở van tim, van
động mạch chủ, động mạch phổi...)
2- Điều kiện (còn gọi là nguyên nhân tức thời để TBMMN dễ xảy ra)
- Tình trạng thần kinh căng thẳng (tức giận, lo âu, buồn vui quá
độ...)
- Say bia, say rượu, say thuốc lá.
- Nhiễm lạnh đột ngột (khi tắm, bị gió lùa).


NHỮNG DẦU HIỆU BÁO TRƯỚC KHI BỊ  TBMMN


- Nhức đầu: Đây là dấu hiệu thường có nhất, hay xuất hiện về đêm, nhức nửa đầu (thường ở bên sẽ bị tổn thương). Cơn nhức đầu có
thể thoáng qua hoặc kéo dài.
- Chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nhiều khi bị xung huyết ở vùng mặt
(bầm tím).
- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó, nói ngọng, không hiểu lời.
- Tê bì hoặc dị cảm nửa người (bên sẽ bị liệt).

- Thoáng mất ý thức, thoáng quên, thoáng điếc, thoáng ngất.
Tất cả những dấu hiệu trên có thể chỉ thoáng qua rồi mất cho nên người bệnh không lưu ý. Nhưng có khi ngay sau đó người bệnh rơi vào tình trạng TBMMN (hôn  mê).
 
 
NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TBMMN
 
 
1- Nếu nặng:
Tự nhiên bệnh nhân bị sây sẩm mặt mày rồi ngã vật ra, mê man
bất tỉnh, thở khò khè. Liệt nửa người, ỉa đái dầm dề. Những trường hợp này rất nặng, dễ dẫn đến tử vong sau ít giờ.
 
 
2- Nếu nhẹ:
Bệnh nhân cảm thấy nói khó, tê bì nửa người, tay chân khó vận động và dần dần không thể chủ động được nữa, tình trạng tinh thần vẫn còn tỉnh táo. Bệnh có thể dừng ở đây rồi phục hồi dần dần.
Song nhiều khi trở thành nặng như trên.

Châm cứu cổ điển và hiện đại


CHÂM CỨU CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI

TÁC GIẢ: Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa

Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ

TẢI VỀ-ĐÓNG GÓI THÀNH EBOOK :

NGÔ ĐỨC KHẢI 

PHẦN NỘI DUNG ĐƯỢC GIỮ NGUYÊN BẢN

[DOWNLOAD] http://www.mediafire.com/download.php?ur93ya3rzqpqbfs
[PASSWORD] wWw.kenhdaihoc.com

Châm cứu cổ điển và hiện đại


CHÂM CỨU CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI

TÁC GIẢ: Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa

Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ

TẢI VỀ-ĐÓNG GÓI THÀNH EBOOK :

NGÔ ĐỨC KHẢI 

PHẦN NỘI DUNG ĐƯỢC GIỮ NGUYÊN BẢN

[DOWNLOAD] http://www.mediafire.com/download.php?ur93ya3rzqpqbfs
[PASSWORD] wWw.kenhdaihoc.com

Cẩm nang chữa trị đông y


Download + pass
1.Vũ trụ quan và các thuyết cơ bản của đông y
Đặc điểm địa dư khí hậu phương đông  
Vũ trụ quan phương đông  
Các thuyết cơ bản của đông y
2.Tinh - Khí - Thần
Tinh  
Khí  
Thần
3.Học thuyết tạng phủ
Sinh lý và bệnh chủ yếu của tạng phủ  
Quan hệ giữa ngũ tạng với nhau  
Tóm tắt: Tương ứng theo hệ thống giải phẫu đông y
4. Bát cương biện chứng
Biểu và lý  
Hàn và nhiệt  
Hư và thực  
Âm và dương  
Tóm tắt bát cương biện chứng
5. Tứ chẩn 
Vấn chẩn (hơi)  
Vọng chẩn (nhìn)  
Văn chẩn (nghe)  
Thiết chẩn (bắt mạch và sờ nắn)

II.CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH VÀ CHÂM CỨU
Bàn về các phương pháp chữa bệnh
Phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu

III.KINH LẠC
Đại cương về kinh lạc  
Mười hai kinh mạch  
Tám mạch kỳ kinh  

IV.DU HUYỆT
Đại cương về du huyệt  
Phân loại du huyệt  

Cách lấy huyệt  
Huyệt đặc tính (huyệt theo đặc tính nhất định)
V.CÁCH CHÂM CỨU
Cách châm
Cách cứu
VI. HUYỆT VỊ
Thủ thái âm phế kinh
Thủ dương minh đại trường kinh
Túc dương minh vị kinh
Túc thái âm kỳ kinh
Thủ thiếu âm tâm kinh
Thủ thái dương tiểu trường kinh
Túc thái dương quang kinh
Túc thiếu âm thân kinh
Thủ quyết âm tâm bào kinh
Thủ thiếu dương tam tiêu kinh
Thủ thiếu dương đảm kinh
Túc quyết âm can kinh
Nhâm mạch
Đốc mạch
Tên huyệt ở 6 mạch kỳ kinh còn lại
Tân huyệt và kỳ huyệt
Tân huyệt Kỳ huyệt

VII. BẢNG TRA CỨU HUYỆT LIÊN QUAN TRONG CHÂM CỨ
Ngũ du phối ngũ hành
Các huyệt giao hội
Ngày giờ và huyệt mở theo phép "Linh quy phi đằng"
Ngày giờ và huyệt mở theo phép "Tý ngọ lưu trú"
Giờ huyệt mở theo 12 địa chi và tạng phủ
VIII. PHÉP DƯỠNG SINH
Về phế
Về tỳ
Về tâm
Về can
Về thân
Về nhâm đốc
Về tinh thần
IX. TẠNG PHỦ BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Tâm và tiểu trường
Can và đảm
Tỳ và vị

Phế và đại trường
Thận và bàng quang
X. ÔN NHIỆT KINH BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Vệ, khí, doanh, huyết biện chứng luận trị  
Lục kinh biện chứng và tam tiêu biện chứng  
Tóm tắt chung các loại biện chứng
XI. CHẨN TRỊ CÁC CHỨNG TRONG LÂM SÀNG, CÓ KẾT HỢP ĐÔNG Y 
TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Sốt cao
Hôn mê
Trẻ em kinh quyết (co giật)
Choáng ngất
Ngất xỉu (quyết chứng)
Chứng về huyết (xuất huyết)
Hen suyễn  
Tim thổn thức (hồi hộp)
Đau bụng
Nôn mửa
Vàng da (hoàng đản)
Chóng mặt (huyễn vận)
Đau đầu
Đau ngực  
Đau sườn
Đau lưng
Phù thũng
Bí đái, đái ít
Chứng liệt (nuy chứng)
XII.CHẨN TRỊ NHỮNG BỆNH CHỨNG THƯỜNG GẶP BẰNG CHÂM CỨU
Nguyên tắc trị liệu bằng châm cứu
Quy tắc xử phương trong châm cứu
Tám phép trị cơ bản
Chữa những bệnh thường gặp
Cảm mạo  
Ho  
Hen  
Đau đầu  
Choáng váng  
Mất ngủ  
Say nắng  
Hôn mê  
Choáng  
Trúng gió  
Miệng mắt méo lệch  
Chứng giản  

Nấc  
Nôn mửa
Đau dạ dày  
Đau bụng  
Tiêu chảy  
Bệnh lỵ  
Thổ tả  
Sốt rét  
Táo bón  
Đại tiện ra máu  
Viêm ruột thừa  
Chứng bại liệt  
Đau lưng  
Đau sườn ngực  
Đái dầm  
Lòi dom
Rối loạn kinh nguyệt  
Hành kinh đau bụng  
Tắc kinh  
Băng lậu huyết  
Khó đẻ  
Choáng váng sau đẻ  
Táo bón sau đẻ  
Thiếu sữa  
Sa dạ con  
Ho gà  
Kinh phong  
Phong lỗ rốn  
Trẻ em tiêu chảy
Trẻ em cam tích  
Quai bị  
Mụn nhọt  
Viêm tuyến vú  
Dị ứng mẩn ngứa  
Viêm bao hoạt dinh  
Bướu cổ  
Bong gân  
Sái cổ  
Câm điếc  
Chảy máu mũi  
Viêm xoang mũi  
Viêm họng  
Đau răng  
Đau mắt hoả bạo phát  
Gặp gió chảy nước mắt  
Cận thị  Lao phổi  
Nghẹn
Liệt nửa người  
Viêm tinh hoàn  
Di tinh  
Liệt dương  
Khí hư  
Có mang nôn mửa  
Quáng gà  
Bệnh uốn ván  
Lao hạch  
Đảo kinh  
Di chứng bại liệt trẻ em  
Bệnh liệt mồm  
Sởi  
Bạch hầu  
Viêm não nhật bản  
Viêm tai giữa
XIII. CÁC PHƯƠNG HUYỆT CHỮA TRỊ CÔNG HIỆU
Hướng dẫn sử dụng
Các huyệt chữa trị bệnh của 14 đường kinh:
Bệnh vùng đầu  
Bệnh gáy cổ
Bệnh mặt 
Bệnh mắt  
Bệnh mũi  
Bệnh miệng răng lưỡi 
Bệnh tai  
Bệnh hầu họng  
Bệnh sườn ngực  
Bệnh tim mạch  
Bệnh phổi
Bệnh gan  
Bệnh mật, vàng da  
Sán khí 
Bệnh tiêu hoá tỳ vận  
Bệnh dạ dày  
Bệnh đường ruột  
Bệnh thận, bàng quang  
Bệnh vùng bụng dưới  
Đau lưng, đau họng  
Bệnh sốt rét 
Bệnh huyết mạch  Bệnh cảm mạo  
Bệnh tinh thần, thần kinh 
Cấp cứu choáng ngất  
Bệnh ngoài da  
Bệnh bại  
Bệnh đàn ông  
Bệnh phụ khoa  
Các phương huyệt chữa trị bệnh của tân, kỳ huyệt: 
Bệnh mắt  
Bệnh tai  
Bệnh mũi  
Bệnh hầu họng miệng lưỡi 
Bệnh mặt  
Bệnh đầu  
Bệnh gáy cổ
Bệnh chi trên  
Bệnh lưng  
Bệnh ngực  
Bệnh chi dưới  
Trúng gió liệt nửa người 
Bệnh não  
Bệnh huyết áp  
Bệnh tim  
Bệnh phổi  
Bệnh gan mật  
Bệnh lá lách, tuỵ  
Bệnh dạ dày  
Bệnh vùng bụng  
Bệnh ổ ruột  
Ký sinh trùng đường ruột 
Bệnh tiêu hoá  
Bệnh thận, bàng quang  
Bệnh hậu môn  
Rắn cắn  
Bệnh về máu  
Bệnh sốt  
Bệnh mồ hôi  
Bệnh cảm cúm  
Trẻ em kinh phong  
Bệnh  
Nôn mửa  
Đờm  
Bệnh ngoài da
Bệnh tinh thần, thần kinh  
Bệnh đông kinh  
Bệnh phụ khoa  
Những tác dụng đặc hiệu của một số huyệt vị cần chú ý (huyệt đặc hiệu)
XIV. PHÉP CHẨN BỆNH BẰNG NHIỆT ĐỘ KINH LẠC
Dẫn nhập  
Phép chẩn bệnh bằng nhiệt độ kinh lạc nguyên lý, cách tiến hành và nhận định chẩn 
đoán:
Phép chẩn bệnh bằng nhiệt độ kinh lạc  
Cách vận hành máy đo nhiệt độ kinh lạc  
Cách đo nhiệt độ kinh lạc  
Cách ghi số đo và các chỉ số nhiệt  
Phần định hàn, nhiệt, biểu, lý và bệnh lý, sinh lý của từng kinh
Mô hình chỉ số nhiệt kinh lạc của bệnh chứng và cách lập mô hình
Lượng giá mức độ hoạt động của công năng tạng phủ dựa theo chỉ số nhiệt kinh lạc 
qua các lần đo nhiệt độ kinh lạc
Mô hình chỉ số nhiệt kinh lạc trong tạng phủ biện chứng và phương huyệt chẩn trị
tương ứng
Những nhận định chủ đạo trong việc phân tích diễn giải các chỉ số nhiệt kinh lạc
XV. LIỆT KÊ CÁC HUYỆT KHÁC NHAU NHƯNG CÙNG TÊN VÀ MỘT 
HUYỆT CÓ NHIỀU TÊN
Tổng quan  
Các huyệt khác nhau nhưng cùng tên  
Một số huyệt có nhiều tên  
Mười ba quỷ huyệt

Cẩm nang chữa trị đông y


Download + pass
1.Vũ trụ quan và các thuyết cơ bản của đông y
Đặc điểm địa dư khí hậu phương đông  
Vũ trụ quan phương đông  
Các thuyết cơ bản của đông y
2.Tinh - Khí - Thần
Tinh  
Khí  
Thần
3.Học thuyết tạng phủ
Sinh lý và bệnh chủ yếu của tạng phủ  
Quan hệ giữa ngũ tạng với nhau  
Tóm tắt: Tương ứng theo hệ thống giải phẫu đông y
4. Bát cương biện chứng
Biểu và lý  
Hàn và nhiệt  
Hư và thực  
Âm và dương  
Tóm tắt bát cương biện chứng
5. Tứ chẩn 
Vấn chẩn (hơi)  
Vọng chẩn (nhìn)  
Văn chẩn (nghe)  
Thiết chẩn (bắt mạch và sờ nắn)

II.CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH VÀ CHÂM CỨU
Bàn về các phương pháp chữa bệnh
Phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu

III.KINH LẠC
Đại cương về kinh lạc  
Mười hai kinh mạch  
Tám mạch kỳ kinh  

IV.DU HUYỆT
Đại cương về du huyệt  
Phân loại du huyệt  

Cách lấy huyệt  
Huyệt đặc tính (huyệt theo đặc tính nhất định)
V.CÁCH CHÂM CỨU
Cách châm
Cách cứu
VI. HUYỆT VỊ
Thủ thái âm phế kinh
Thủ dương minh đại trường kinh
Túc dương minh vị kinh
Túc thái âm kỳ kinh
Thủ thiếu âm tâm kinh
Thủ thái dương tiểu trường kinh
Túc thái dương quang kinh
Túc thiếu âm thân kinh
Thủ quyết âm tâm bào kinh
Thủ thiếu dương tam tiêu kinh
Thủ thiếu dương đảm kinh
Túc quyết âm can kinh
Nhâm mạch
Đốc mạch
Tên huyệt ở 6 mạch kỳ kinh còn lại
Tân huyệt và kỳ huyệt
Tân huyệt Kỳ huyệt

VII. BẢNG TRA CỨU HUYỆT LIÊN QUAN TRONG CHÂM CỨ
Ngũ du phối ngũ hành
Các huyệt giao hội
Ngày giờ và huyệt mở theo phép "Linh quy phi đằng"
Ngày giờ và huyệt mở theo phép "Tý ngọ lưu trú"
Giờ huyệt mở theo 12 địa chi và tạng phủ
VIII. PHÉP DƯỠNG SINH
Về phế
Về tỳ
Về tâm
Về can
Về thân
Về nhâm đốc
Về tinh thần
IX. TẠNG PHỦ BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Tâm và tiểu trường
Can và đảm
Tỳ và vị

Phế và đại trường
Thận và bàng quang
X. ÔN NHIỆT KINH BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Vệ, khí, doanh, huyết biện chứng luận trị  
Lục kinh biện chứng và tam tiêu biện chứng  
Tóm tắt chung các loại biện chứng
XI. CHẨN TRỊ CÁC CHỨNG TRONG LÂM SÀNG, CÓ KẾT HỢP ĐÔNG Y 
TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Sốt cao
Hôn mê
Trẻ em kinh quyết (co giật)
Choáng ngất
Ngất xỉu (quyết chứng)
Chứng về huyết (xuất huyết)
Hen suyễn  
Tim thổn thức (hồi hộp)
Đau bụng
Nôn mửa
Vàng da (hoàng đản)
Chóng mặt (huyễn vận)
Đau đầu
Đau ngực  
Đau sườn
Đau lưng
Phù thũng
Bí đái, đái ít
Chứng liệt (nuy chứng)
XII.CHẨN TRỊ NHỮNG BỆNH CHỨNG THƯỜNG GẶP BẰNG CHÂM CỨU
Nguyên tắc trị liệu bằng châm cứu
Quy tắc xử phương trong châm cứu
Tám phép trị cơ bản
Chữa những bệnh thường gặp
Cảm mạo  
Ho  
Hen  
Đau đầu  
Choáng váng  
Mất ngủ  
Say nắng  
Hôn mê  
Choáng  
Trúng gió  
Miệng mắt méo lệch  
Chứng giản  

Nấc  
Nôn mửa
Đau dạ dày  
Đau bụng  
Tiêu chảy  
Bệnh lỵ  
Thổ tả  
Sốt rét  
Táo bón  
Đại tiện ra máu  
Viêm ruột thừa  
Chứng bại liệt  
Đau lưng  
Đau sườn ngực  
Đái dầm  
Lòi dom
Rối loạn kinh nguyệt  
Hành kinh đau bụng  
Tắc kinh  
Băng lậu huyết  
Khó đẻ  
Choáng váng sau đẻ  
Táo bón sau đẻ  
Thiếu sữa  
Sa dạ con  
Ho gà  
Kinh phong  
Phong lỗ rốn  
Trẻ em tiêu chảy
Trẻ em cam tích  
Quai bị  
Mụn nhọt  
Viêm tuyến vú  
Dị ứng mẩn ngứa  
Viêm bao hoạt dinh  
Bướu cổ  
Bong gân  
Sái cổ  
Câm điếc  
Chảy máu mũi  
Viêm xoang mũi  
Viêm họng  
Đau răng  
Đau mắt hoả bạo phát  
Gặp gió chảy nước mắt  
Cận thị  Lao phổi  
Nghẹn
Liệt nửa người  
Viêm tinh hoàn  
Di tinh  
Liệt dương  
Khí hư  
Có mang nôn mửa  
Quáng gà  
Bệnh uốn ván  
Lao hạch  
Đảo kinh  
Di chứng bại liệt trẻ em  
Bệnh liệt mồm  
Sởi  
Bạch hầu  
Viêm não nhật bản  
Viêm tai giữa
XIII. CÁC PHƯƠNG HUYỆT CHỮA TRỊ CÔNG HIỆU
Hướng dẫn sử dụng
Các huyệt chữa trị bệnh của 14 đường kinh:
Bệnh vùng đầu  
Bệnh gáy cổ
Bệnh mặt 
Bệnh mắt  
Bệnh mũi  
Bệnh miệng răng lưỡi 
Bệnh tai  
Bệnh hầu họng  
Bệnh sườn ngực  
Bệnh tim mạch  
Bệnh phổi
Bệnh gan  
Bệnh mật, vàng da  
Sán khí 
Bệnh tiêu hoá tỳ vận  
Bệnh dạ dày  
Bệnh đường ruột  
Bệnh thận, bàng quang  
Bệnh vùng bụng dưới  
Đau lưng, đau họng  
Bệnh sốt rét 
Bệnh huyết mạch  Bệnh cảm mạo  
Bệnh tinh thần, thần kinh 
Cấp cứu choáng ngất  
Bệnh ngoài da  
Bệnh bại  
Bệnh đàn ông  
Bệnh phụ khoa  
Các phương huyệt chữa trị bệnh của tân, kỳ huyệt: 
Bệnh mắt  
Bệnh tai  
Bệnh mũi  
Bệnh hầu họng miệng lưỡi 
Bệnh mặt  
Bệnh đầu  
Bệnh gáy cổ
Bệnh chi trên  
Bệnh lưng  
Bệnh ngực  
Bệnh chi dưới  
Trúng gió liệt nửa người 
Bệnh não  
Bệnh huyết áp  
Bệnh tim  
Bệnh phổi  
Bệnh gan mật  
Bệnh lá lách, tuỵ  
Bệnh dạ dày  
Bệnh vùng bụng  
Bệnh ổ ruột  
Ký sinh trùng đường ruột 
Bệnh tiêu hoá  
Bệnh thận, bàng quang  
Bệnh hậu môn  
Rắn cắn  
Bệnh về máu  
Bệnh sốt  
Bệnh mồ hôi  
Bệnh cảm cúm  
Trẻ em kinh phong  
Bệnh  
Nôn mửa  
Đờm  
Bệnh ngoài da
Bệnh tinh thần, thần kinh  
Bệnh đông kinh  
Bệnh phụ khoa  
Những tác dụng đặc hiệu của một số huyệt vị cần chú ý (huyệt đặc hiệu)
XIV. PHÉP CHẨN BỆNH BẰNG NHIỆT ĐỘ KINH LẠC
Dẫn nhập  
Phép chẩn bệnh bằng nhiệt độ kinh lạc nguyên lý, cách tiến hành và nhận định chẩn 
đoán:
Phép chẩn bệnh bằng nhiệt độ kinh lạc  
Cách vận hành máy đo nhiệt độ kinh lạc  
Cách đo nhiệt độ kinh lạc  
Cách ghi số đo và các chỉ số nhiệt  
Phần định hàn, nhiệt, biểu, lý và bệnh lý, sinh lý của từng kinh
Mô hình chỉ số nhiệt kinh lạc của bệnh chứng và cách lập mô hình
Lượng giá mức độ hoạt động của công năng tạng phủ dựa theo chỉ số nhiệt kinh lạc 
qua các lần đo nhiệt độ kinh lạc
Mô hình chỉ số nhiệt kinh lạc trong tạng phủ biện chứng và phương huyệt chẩn trị
tương ứng
Những nhận định chủ đạo trong việc phân tích diễn giải các chỉ số nhiệt kinh lạc
XV. LIỆT KÊ CÁC HUYỆT KHÁC NHAU NHƯNG CÙNG TÊN VÀ MỘT 
HUYỆT CÓ NHIỀU TÊN
Tổng quan  
Các huyệt khác nhau nhưng cùng tên  
Một số huyệt có nhiều tên  
Mười ba quỷ huyệt